Thứ Năm – Tuần 2 Phục Sinh

LECTIO DIVINA THỨ NĂM TUẦN 2 PHỤC SINH
NGÀY 12-04-2018 : Ga 3, 31-36

“The Father loves the Son and has entrusted everything to his hands”. “Đức Chúa Cha thương mến Con Ngài, nên ban toàn quyền trong tay Con Ngài”.
1) Opening prayer 1) Kinh khai mạc
Lord our God, your Son Jesus Christ came from you and bore witness to the things he had heard and seen. He could not but bear witness to you. Give us the Spirit of your Son, we pray you, to speak your word and to live it, that we may show Christ, your living Word, to those who have not seen him. We ask you this through Christ our Lord. Lạy Chúa là Thiên Chúa chúng. Đức Giêsu Kitô, Con Chúa, đã đến từ Chúa và làm chứng cho những điều Ngài nghe và thấy. Ngài đã làm chứng về Chúa. Xin ban cho chúng con Thần Khì của Con Ngài. Chúng con cầu xin Chúa ban ơn giúp chúng con nói và sống Lời Chúa, để chúng con có thể tỏ lộ Đức Kitô, Lời hằng sống của Chúa cho những người chưa thấy Ngài. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.
2) Gospel Reading : John 3,31-36 2) Tin Mừng : Ga 3, 31-36
John the Baptist said to his disciples: “He who comes from above is above all others; he who is of the earth is earthly himself and speaks in an earthly way. He who comes from heaven bears witness to the things he has seen and heard, but his testimony is not accepted by anybody; though anyone who does accept his testimony is attesting that God is true, since he whom God has sent speaks God’s own words, for God gives him the Spirit without reserve. Khi ấy, ông Gioan nói để làm chứng về Chúa Giêsu rằng: “Đấng từ trên cao mà đến thì vượt trên hết mọi người. Kẻ bởi đất mà ra, thì thuộc về đất và nói những sự thuộc về đất. Đấng từ trời mà đến thì vượt trên hết mọi người. Điều gì Người thấy và nghe, thì Người làm chứng về điều đó. Nhưng lời chứng của Người không ai chấp nhận. Ai chấp nhận lời chứng của Người, thì quả quyết Thiên Chúa là Đấng chân thật. Đấng được Thiên Chúa sai đến thì nói lời của Thiên Chúa, vì được Chúa ban cho thần linh khôn lường.
The Father loves the Son and has entrusted everything to his hands. Anyone who believes in the Son has eternal life, but anyone who refuses to believe in the Son will never see life: God’s retribution hangs over him.” Cha yêu mến Con, nên đã ban mọi sự trong tay Con. Ai tin vào Con thì có sự sống đời đời. Còn ai không tin vào Con, thì sẽ không được thấy sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên người ấy”.
3) Reflection 3) Suy ngắm
• During the month of January we meditated on John 3, 22-30, which shows us the last witness of John the Baptist concerning Jesus. It was a response given by him to his disciples, in which he reaffirms that he, John, is not the Messiah, but rather his precursor (Jn 3, 28). On that occasion, John says that beautiful phrase which summarizes his witness: ― It is necessary that he grows greater and I grow less!‖ This phrase is the program for all those who want to follow Jesus. * Trong tháng giêng, chúng ta đã suy ngắm Ga 3, 22-30, tỏ cho chúng ta chứng từ cuối cùng của Thánh Gioan Tẩy Giả liên quan tới Chúa Giêsu. Đó là câu trả lời ngài nói với các môn đệ của ngài, trong đó ngài khẳng định một lần nữa ngài không phải là Đức Messia (ngài không phải  là Thiên sai), nhưng là người đi trước (Ga 3, 28). Trong dịp đó Thánh Gioan nói một câu rất đẹp, tóm tắt việc làm chứng của ngài : “Ngài cần phải lớn lên, còn tôi thì phải nhỏ đi!” Câu này là chương trình cho tất cả những người muốn theo Chúa Giêsu.
• The verses of today‘s Gospel are, again, a comment of the Evangelist in order to help the communities to understand better all the importance of the things that Jesus did and taught. Here, we have another indication of those three threads of which we spoke about before. * Các câu của Tin Mừng hôm nay, một lần nữa, là câu cắt nghĩa của Tác giả Tin Mừng để giúp các cộng đoàn hiểu tốt hơn tầm mức quan trọng của những điều Chúa Giêsu làm và dạy. Ở đây chúng ta có một dấu chỉ khác về ba vân mạch mà chúng ta đã nói ở trên.
• John 3, 31-33: A refrain which is always repeated. Throughout the Gospel of John, many times there appears the conflict between Jesus and the Jews who contest the words of Jesus. Jesus speaks of what he hears from the Father. He is total transparency. His enemies, not opening themselves to God and because they cling to their own ideas here on earth, are not capable to understand the deep significance of the things that Jesus lives, does and says. In last instance, this is the evil one which pushes the Jews to arrest and condemn Jesus. * Ga 3, 31-33 : Một điệp khúc luôn được lập lại. Trong suốt Tin Mừng Gioan, nhiều lần xảy ra sự xung khắc giữa Chúa Giêsu và người Do thái chống lại những lời của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu nói những gì Ngài nghe từ Chúa Cha. Ngài hoàn toàn trong sáng. Kẻ thù của Ngài, không rộng mở cho Thiên Chúa và ví họ bám chặt vào tư tưởng của họ ở dưới thế này, cho nên họ không hiểu ý nghĩa sâu xa của những điều Chúa Giêsu sống, làm và nói. Và cuối cùng, đó là sự xấu thôi thúc người Do thái bắt và kết án Chúa Giêsu.
• John 3, 34: Jesus gives us the Spirit without reserve. John‘s Gospel uses many images and symbols to signify the action of the Spirit. Like in the Creation (Gen 1, 1), in the same way the Spirit descends on Jesus ― like a dove, come from Heaven (Jn 1, 32). It is the beginning of the new creation! Jesus repeats the words of God and communicates the Spirit to us without reserve (Jn 3, 34). His words are Spirit and life (Jn 6, 63). When Jesus is about to leave this earth, he says that he will send another Consoler, another defender, to be with us forever (Jn 14, 16-17). By his Passion, Death and Resurrection, Jesus obtains for us the gift of the Spirit. Through Baptism all of us have received this same Spirit of Jesus (Jn 1, 33). When he appears to the apostles, he breathed on them and said: ―Receive the Holy Spirit!‖ (Jn 20, 22). The Spirit is like the water which springs from the persons who believe in Jesus (Jn 7, 37-39; 4, 14). The first effect of the action of the Spirit in us is reconciliation: ― If you forgive anyone‘s sins they will be forgiven; if you retain anyone‘s sins, they are retained!‖ (Jn 20, 23). The Spirit is given to us to recall and understand the full significance of the words of Jesus (Jn 14, 26; 16, 12-13). Animated by the Spirit of Jesus we can adore God in any place (Jn 4, 23-24). Here is fulfilled the liberty of the Spirit of which Saint Paul speaks: ― Where the Spirit of the Lord is, there is freedom!(2 Co 3, 17). * Ga 3, 34 : Chúa Giêsu ban Chúa Thánh Thần cho chúng ta không giới hạn. Tin Mừng Gioan dùng nhiều hình ảnh và biểu tương để chỉ hoạt động của Chúa Thánh Thần. Cũng như trong tạo dựng (St 1, 1), tương tự như vậy, Chúa Thánh Thần xuống trên Chúa Giêsu – như chim bồ câu, xuống từ Trời (Ga 1, 32). Đây là khởi đầu của công trình tạo dựng mới! Chúa Giêsu lập lại những lời của Thiên Chúa và ban Chúa Thánh Thần cho chúng ta không giới hạn (Ga 3, 34). Lời của Ngài là Thần Khi và sự sống (Ga 6, 63). Khi Chúa sắp từ giả trái đất này, Ngài nói là Ngài sẽ gửi Đấng Yên ủi khác, Đấng Bảo vệ khác, để ở với chúng ta luôn mãi (Ga 14, 16-17). Nhờ cuộc Thương khó, Chết và Sống lại, Chúa Giêsu nhận ơn Chúa Thánh Thần cho chúng ta. Nhờ phép Thánh Tẩy, tất cả chúng ta cũng lãnh nhận Thánh Thần của Chúa Giêsu (Ga 1, 33). Khi xuất hiện cho các Tông đồ, Ngài đã thở hơi trên các Ông và nói : – Hãy lãnh nhận Chúa Thánh Thần (Ga 20, 22). Hiệu quả thứ nhất trong hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi chúng ta là sự giao hoà : – Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ! (Ga 20, 23). Chúa Thánh Thần được cho chúng ta để nhắc cho chúng ta và giúp chúng ta hiểu ý nghĩa của những Lời Chúa Giêsu (Ga 14, 26; 16, 12-13). Được Thánh Thần Chúa Giêsu sinh động, chúng ta có thể tôn thờ Thiên Chúa bất cứ ở nơi nào (Ga 4, 23-24). Ở đây sự tự do của Chúa Thánh Thần được Thánh Phaolô nói tới : – Ở đâu có Thánh Thần của Chúa, ở đó có sự tự do” (2 Cr 3, 17)
• John 3, 35-36: The Father loves the Son. He reaffirms the identity between the Father and Jesus. The Father loves the Son and places all things in his hand. Saint Paul will say that the fullness of the divinity dwells in Jesus (Col 1, 19; 2, 9). This is why the one who accepts Jesus and believes in Jesus has eternal life, because God is life. The one who does not accept to believe in Jesus, places himself outside. * Ga 3, 35-36 : Chúa Cha yêu Chúa Con. Chúa Giêsu khẳng định sự đồng nhất giữa Chúa Cha và Ngài.  Chúa Cha yêu Chúa Con và đặt mọi sự trong tay Chúa Con. Thánh Phaolôsẽ nói rằng trọn vẹn thiên tính ở nới Chúa Giêsu (Cl 1, 19 ; 2, 9). Chính vì thế ai đón nhận Chúa Giêsu và tin vào Ngài thì có sự sống đời đời, vì Thiên Chúa là sự sống. Còn ai không chấp nhận tin vào Chúa Giêsu, thì đặt mình ở bên ngoài.
4) Salesian Constitutions 4) Hiến Luật Salêdiêng
95.  Life as prayer

Immersed in the world and in the cares of the pastoral life, the Salesian learns to meet God through those to whom he is sent.

Discovering the fruits of the Spirit1 in the lives of men, especially the young, he gives thanks for everything;2  as he shares their problems and sufferings, he invokes upon them the light and strength of God’s presence.

He draws on the love of the Good Sheperhd, whose witness he wants to be, and shares in the spiritual riches offered him by the community.

His needs of God, keenly felt in his apostolic commitment, leads him to cleebrate the liturgy of life, attaining that “tireless industry made holy by prayer and union with God”3 that should be the characteristic of the sons of St. John Bosco.

HL 95. Đời sống như kinh nguyện

Ngập chìm trong thế giới và trong những mối bận tâm của đời mục vụ, người Salêdiêng học biết gặp gỡ Thiên Chúa nơi những người mà họ được sai tới.

Khám phá ra hoa quả của Thánh Thần trong đời sống con người, đặc biệt là thanh thiếu niên, người Salêdiêng dâng lời cảm tạ Chúa trong mọi sự; cùng chia sẻ những vấn đề và những đau khổ của con người, họ cầu xin Thánh Thần ban cho những người ấy ánh sáng và sức mạnh đến từ sự hiện diện của Ngài.

Người Salêdiêng kín múc nơi nguồn đức ái của Vị Mục tử Nhân lành, mà họ muốn làm nhân chứng; họ tham dự vào sự giàu có thiêng liêng mà cộng thể cống hiến.

Nhu cầu về Thiên Chúa mà người Salêdiêng cảm nhận trong dấn thân tông đồ đưa họ tới việc cử hành phụng vụ đời sống, đạt được “sự cần lao không biết mỏi mệt, được thánh hóa bằng kinh nguyện và sự kết hợp với Thiên Chúa; sự cần lao đó phải là đặc điểm của con cái thánh Gioan Bosco”.

5) Personal questions 5) Câu hỏi cá nhân
• Jesus communicates the Spirit to us, without reserve. Have you had some experience of this action of the Spirit in your life? * Chúa Giêsu thông truyền Thánh Thần cho chúng ta. Bạn có kinh nghiệm gì về hoạt động của Thánh Thần trong đời sống của bạn?
• He who believes in Jesus has eternal life. How does this take place today in the life of the families and of the communities? * Ai tin vào Chúa Giêsu thì có sự sống đời đời. Điều này xảy ra như thế nào trong đời sống các gia đình và cộng đoàn?
6) Concluding Prayer 6) Kinh kết
Proclaim with me the greatness of Yahweh, let us acclaim his name together. Taste and see that Yahweh is good. How blessed are those who take refuge in him. (Ps 34,3.8) Hãy cùng tôi ngợi khen Đức Chúa, ta đồng thanh tán tụng danh Người. Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy : hạnh phúc thay kẻ ẩn náu bên Người ! (Tv 34, 3.8)

Về Tác Giả và Dịch Giả:
Các bài viết Lectio Divina do nhóm tác giả; Lm. Carlos Mesters, O.Carm. Nt. Maria Anastasia di Gerusalemme, O.Carm., Lm. Cosimo Pagliara, O.Carm. Nt. Maria Teresa della Croce, O.Carm. Lm. Charlò Camilleri, O.Carm. Lm. Tiberio Scorrano, O.Carm. Nt. Marianerina De Simone, SCMTBG và Lm. Roberto Toni, O.Carm., Dòng Cát Minh biên soạn. Bản dịch tiếng Việt do Cô Martha Nhung Trần thực hiện. Tác giả và dịch giả giữ bản quyền.
http://ocarm.org/en/content/lectio/lectio-divina

http://www.dongcatminh.org/calendar-date
Lm. GB. Nguyễn Văn Thêm, SDB bổ sung phần Salêdiêng.