Chân phước MICAE RUA – Linh mục Salêdiêng

Phong bậc đáng kính: 26 tháng 6 năm 1953

Phong chân phước: 29 tháng 10 năm 1972

Ngày mừng kính: 29 tháng 10

Một ngày kia, Don Bosco tâm sự với cha Costamagna rằng: “Nếu Chúa nói với cha: ‘hãy chuẩn bị cho cái chết, nhưng trước hết con hãy chọn một người kế vị, vì Ta không muốn công trình của con bị gián đoạn; con hãy xin cho người đó những ơn cần thiết – nhân đức, ân sủng, đặc sủng và mọi ơn huệ khác, và Ta sẽ ban tặng tất cả.’ Thì cha bảo thật với con, Costamagna thân mến, cha cũng không biết phải xin thêm điều gì, bởi vì cha thấy tất cả những điều ấy đã có nơi Don Rua rồi.”

Micae Rua chào đời ngày 9 tháng 6 năm 1837 tại thành phố Torino, trong một khu lao động nghèo có tên là Borgo Dora. Cha của Rua làm việc trong kho vũ khí, và cả gia đình sống trong khu cư xá dành cho công nhân tại đó. Chẳng bao lâu sau, mẹ của Rua trở thành góa phụ, một mình nuôi hai con nhỏ. Sau cái chết của cha, cậu bé Rua thường nhìn chăm chú vào những người thợ đang làm việc trước lò rèn đỏ rực, nơi các khẩu đại bác đang được rèn giũa. Đó là một môi trường như doanh trại quân đội, nơi cậu vừa sống vừa học hai năm đầu tiểu học. Khi lên lớp Ba, cậu chuyển sang học tại trường của các Sư huynh La Salle – một dòng tu được Hầu tước Tancredi Barolo mời đến vùng Borgo trước đó để giáo dục con em của các gia đình lao động. Chính tại ngôi trường này, cuộc gặp gỡ định mệnh với Don Bosco đã diễn ra. Don Bosco nhìn thấy điều gì đó đặc biệt trong ánh mắt của cậu bé Rua. Ngài chìa tay ra, như cách ngài thường làm với các thiếu niên và nói: “Chúng ta sẽ chia đôi nhé!” Những lời ấy in sâu vào trái tim của Rua. Từ đó trở đi, cậu chọn Don Bosco làm cha giải tội và người hướng dẫn thiêng liêng của mình.

Lớp Ba là trình độ bắt buộc với mọi người. Khi Don Bosco hỏi Rua năm sau sẽ làm gì, cậu trả lời rằng vì đã mất cha, nên đã hứa với mẹ là sẽ đi làm ở kho vũ khí để phụ giúp gia đình. Đối với Don Bosco, người cũng từng mồ côi cha thì việc thuyết phục người mẹ cho phép Rua tiếp tục học không phải là điều khó khăn. Nhờ đó, Rua được nhận vào sống nội trú tại Valdocco, nơi đang có hơn năm trăm thiếu niên được Don Bosco chăm sóc và giáo dục. Trong thời gian sống ở đó, ý tưởng về ơn gọi linh mục ngày càng lớn lên trong lòng cậu. Đến ngày 3 tháng 10 năm 1852, cậu được chính Don Bosco trao áo dòng tại Becchi, gần Castelnuovo. Năm sau đó là một năm đặc biệt: kỷ niệm 400 năm phép lạ Thánh Thể. Don Bosco đã viết một tập sách nhỏ để mừng dịp này, và trong một lần dạo bước trên đường phố Torino, ngài đùa với Rua rằng: “Con sẽ phải tái bản tập sách này sau đúng 50 năm nữa đấy!”

Ngày 26 tháng 1 năm 1854, Don Bosco mời bốn bạn trẻ đến phòng của ngài. Với cuộc gặp gỡ đơn sơ, dù chưa chính thức, đã trở thành khởi điểm của Tu hội Salêdiêng Don Bosco. Có mặt trong buổi gặp mặt đầu tiên ấy có Gioan Cagliero và Micae Rua, và chính Micae Rua được Don Bosco giao nhiệm vụ ghi lại biên bản buổi họp. Cả hai đã trở thành những người bạn thân không tách rời. Và khi dịch tả bùng phát tại Torino vào tháng 8 cùng năm, có thể do các binh sĩ từ cuộc chiến tại bán đảo Crimea mang về, Rua và Cagliero là những người đầu tiên tình nguyện dấn thân. Họ tận tình phục vụ các bệnh nhân nghèo ở những khu ổ chuột, bất chấp nguy hiểm. Chính Cagliero cũng đã lâm bệnh nặng trong thời gian này.

Là một thành viên của Hội Mẹ Vô Nhiễm, Rua đã làm việc chặt chẽ với Đaminh Savio, và Rua cũng là một học sinh gương mẫu, một tông đồ giữa các bạn đồng trang lứa. Vào ngày 25 tháng 3 năm 1855, tại phòng của Don Bosco, Rua đã tuyên khấn và trở thành Salêdiêng đầu tiên. Tại Valdocco, các xưởng đóng giày, may mặc và đóng sách được thành lập. Nhiều thiếu niên đã đổi đời. Một số được học hành, số khác tụ họp vào các buổi tối sau giờ làm việc, và nhiều em khác đến vào các ngày Chúa Nhật. Rua trở thành cộng sự viên chính của Don Bosco, dù tuổi đời còn rất trẻ. Ngài được Don Bosco hoàn toàn tin tưởng, đến mức thường xuyên hỗ trợ ngài biên soạn sách, chủ yếu vào ban đêm, hy sinh cả giấc ngủ. Ban ngày, Rua đến phục vụ tại Nguyện xá thánh Lui ở Porta Nuova, một khu vực có nhiều người nhập cư. Những người bị bỏ rơi nhất là các em từ vùng núi, xuống thành phố kiếm sống bằng nghề lau ống khói. Rua, người dạy giáo lý và kiến thức căn bản, đã lắng nghe vô số câu chuyện đau lòng. Nguyện xá này cũng là nơi mà thánh Leonard Murialdo và chân phước Phanxicô Faà di Bruno đã phục vụ.

Vào tháng 11 năm 1856, khi mẹ Margarita Occhiena, mẹ Don Bosco, qua đời, Rua đã xin mẹ mình là bà Giovanna Maria Rua đến Valdocco để chăm sóc các em. Bà đã phục vụ âm thầm tại đây suốt hai mươi năm, cho đến khi qua đời. Việc theo học tại chủng viện thời đó rất khó khăn do các đạo luật bài giáo sĩ, nhưng Rua vẫn kiên trì theo đuổi con đường ơn gọi. Các bạn đồng hành với ngài sau này rất biết ơn vì được sử dụng những ghi chép quý giá của Rua.

Vào tháng 2 năm 1858, Don Bosco soạn thảo những Quy Luật dòng, và người thư ký ‘đáng tin cậy’ đã thức đêm để chép lại những dòng chữ khó đọc của ngài. Sau đó, cả hai cùng đem bản luật đến Rôma xin Đức Giáo hoàng Piô IX phê chuẩn và chính Đức Thánh Cha đã tự tay sửa bản văn. Ban đêm, Rua chép lại văn bản đã được sửa; ban ngày, ngài như “cái bóng” trung thành bên Don Bosco, đến gặp gỡ những nhân vật quan trọng. Năm sau đó, Đức Giáo hoàng chính thức công nhận Tu hội Salêdiêng Don Bosco. Tối ngày 18 tháng 12 năm 1859, ngày Tu hội chính thức được khai sinh, Rua – người vừa được phong phó tế ngày hôm trước, đã được bầu chọn làm cha linh hướng của Tu hội.

Ngày 29 tháng 7 năm 1860, Rua được thụ phong linh mục. Những bông hoa trắng trên bàn thánh trong thánh lễ đầu đời linh mục của ngài là món quà đơn sơ nhưng đầy yêu thương từ các em lau ống khói tại Nguyện xá thánh Lui. Ba năm sau, Rua được gửi đi để thành lập nhà Salêdiêng đầu tiên bên ngoài Torino: một tiểu chủng viện tại Mirabello Monferrato. Ngài phục vụ ở đó hai năm, rồi trở lại Torino vào thời điểm Vương cung Thánh đường Đức Mẹ Phù Hộ đang được xây dựng tại Valdocco. Lúc này, cha Rua trở thành người chịu trách nhiệm chính cho rất nhiều công việc trong Tu hội, thậm chí thay Don Bosco trả lời các thư từ. Ngài làm việc không ngừng nghỉ. Vào tháng 7 năm 1868, Rua bị viêm phúc mạc nặng, suýt chết. Các bác sĩ cho biết là không còn hy vọng, nhưng ngài lại bình phục một cách kỳ diệu – nhiều người tin rằng đó là nhờ sự khẩn cầu của Don Bosco.

Nhiều ơn gọi tu trì đã nảy sinh từ hơn bảy trăm cậu bé tại Nguyện xá. Công trình xây dựng nhà thờ hoàn tất trong năm đó; vào năm 1872, những nữ tu đầu tiên thuộc Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ đã tuyên khấn lần đầu; đến năm 1875, các nhà truyền giáo đầu tiên do cha Cagliero dẫn đầu đã lên đường sang Argentina. Sau đó là sự ra đời của Hiệp hội Cộng tác viên và Tập san Salêdiêng. Nguyện xá ở Valdocco, Torino, khi ấy đã phát triển với quy mô khá lớn, trong khi tại Rôma, Đức Giáo hoàng Lêô XIII yêu cầu Hội dòng xây dựng Vương cung thánh đường kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Don Bosco thường xuyên vắng mặt vì bận rộn với các chuyến đi sang Pháp hoặc Tây Ban Nha, và cha Rua luôn ở bên cạnh ngài. Vào năm 1884, sức khỏe của vị sáng lập đã suy yếu rõ rệt, và chính Đức Giáo hoàng đã gợi ý rằng ngài nên nghĩ đến người kế nhiệm. Ngày 7 tháng 11, Đức Giáo Hoàng bổ nhiệm cha Rua làm Phó bề trên với quyền kế vị. Vào đêm 30 tháng 1 năm 1888, trước sự hiện diện của nhiều linh mục, ngài cầm tay vị thánh ban phép lành cuối cùng. Rồi ngài quỳ gối bên linh cữu của Don Bosco hơn hai giờ đồng hồ.

Lúc này, cha Rua đã là Bề Trên Cả của Tu hội Salêdiêng và là người kế vị đầu tiên của Don Bosco. Ngài là người giải thích cách trung thành, thực hiện và củng cố những gì Don Bosco đã khởi xướng; là người tiếp nối đoàn sủng trong tất cả các chiều kích, với một định hướng rất rõ ràng ngay từ lúc bắt đầu sứ vụ lãnh đạo: “Ý tưởng khác vẫn luôn in đậm trong tâm trí tôi là: chúng ta phải coi mình là những người rất diễm phúc khi được làm con cái của một người cha như thế. Vì lý do đó, điều chúng ta phải quan tâm, nâng đỡ và phát triển ngày càng hơn nữa những công cuộc mà ngài đã khởi sự; trung thành noi theo những phương pháp ngài đã thực hành và truyền dạy; và trong cách nói năng, hành xử của chúng ta, cố gắng bắt chước mẫu gương mà Thiên Chúa nhân lành đã ban cho chúng ta qua ngài. Hỡi các con yêu dấu, đây sẽ là chương trình mà cha theo đuổi trong thời gian thi hành nhiệm vụ; ước gì đây cũng là mục tiêu và nỗ lực của từng Salêdiêng.”

Chức vụ mà cha Rua thi hành là một hình thức quản trị vừa mang tính đoàn sủng vừa mang tính gương mẫu: chính cha Rua là một con người có đoàn sủng và sống gương mẫu, nghĩa là ngài lãnh đạo bằng chính đời sống và là một mẫu gương đích thực. Ngài không đề cao chính mình, nhưng luôn làm nổi bật hình ảnh Don Bosco và đoàn sủng của ngài ở mọi nơi mọi lúc: cho các Salêdiêng, cho Giáo hội và cho xã hội. Vì thế, có thể nói rằng tuy ngài lãnh đạo bằng sự khôn ngoan, nhưng chính sự thánh thiện và phẩm chất luân lý nơi con người ngài càng làm cho việc lãnh đạo ấy thêm phần vững mạnh.

Kết quả của sự lãnh đạo và cai quản là việc mở rộng các cơ sở Salêdiêng, thường được thành lập trong hoàn cảnh nghèo nàn và thiếu hụt nhân sự, đồng thời phải đối mặt với nhiều tình huống rất khó khăn của nhiều nơi; các cuộc truyền giáo được phái đi để hỗ trợ và phát triển các công cuộc đã có cũng như mở thêm những công cuộc mới, đặc biệt là ở những vùng chưa được biết Tin mừng. Trong suốt hai mươi hai năm làm Bề trên cả, cha Rua đã làm tăng số lượng các cơ sở Salêdiêng: từ 64 nhà lúc Don Bosco qua đời, lên tới 341 nhà vào năm 1910, năm ngài từ trần.

Một thành quả tốt đẹp khác, được chúc phúc từ trời cao và nuôi dưỡng bằng lao nhọc không ngơi nghỉ, chính là sự trổ sinh ơn gọi. Cha Rua luôn tha thiết nhấn mạnh việc vun trồng ơn gọi như một ưu tiên hàng đầu. Nhờ đó, các nhà Salêdiêng dần trở thành những “trường học đào tạo Kitô hữu”. Ngài thường nhắc nhở các Salêdiêng rằng cốt lõi đoàn sủng chính là tình yêu bao la của Thiên Chúa được thể hiện qua lòng yêu thương tha nhân. Với cha Rua, một công cuộc Salêdiêng thật sự thành công không chỉ nằm ở số lượng, mà ở khả năng đánh thức và nuôi dưỡng ơn gọi – đó là dấu chỉ sống động cho thấy tinh thần Don Bosco vẫn đang tiếp tục sống động giữa lòng thế giới. Nếu vào lúc Don Bosco qua đời, Hội dòng chỉ có 768 Salêdiêng, thì đến khi cha Rua kết thúc hành trình dương thế, con số ấy đã tăng lên đến 4.001 Salêdiêng đã tuyên khấn và 371 tập sinh. Công việc mục vụ ơn gọi này được thực hiện song song với việc củng cố các tiến trình đào tạo, thông qua việc thiết lập các trung tâm đào luyện: nhà tập, học viện triết học và thần học.

Công việc điều hành và lãnh đạo của cha Rua bắt nguồn từ lòng trung thành với Don Bosco và đoàn sủng của ngài. Sự trung thành này được thể hiện qua việc tuân giữ Hiến Luật và Quy Chế, qua kinh nghiệm sống trong các cộng thể Salêdiêng, qua việc đọc và học hỏi các tác phẩm của Don Bosco – dù là bản gốc hay bản dịch – và nhất là qua việc sống gần gũi với những người đã từng cộng tác và đồng hành trực tiếp với Don Bosco. Cha Rua tin rằng: khi các Salêdiêng sống gắn bó mật thiết với con người và tinh thần của Don Bosco, thì họ sẽ dễ dàng vượt qua các xu hướng cá nhân chủ nghĩa, sự tách biệt và lối sống tự do thái quá đang lan rộng trong xã hội. Điều này cũng giúp củng cố tinh thần thuộc về, và xây dựng nên những cộng đoàn Salêdiêng sốt sắng, hài hòa, huynh đệ và tông đồ – hiệp nhất với Bề trên Cộng đoàn, gắn bó với Giám tỉnh, Bề Trên Cả và Tổng Tu nghị.

Cha Rua là một nhà truyền giáo không biết mệt mỏi, và là người diễn giải trung thành Hệ thống Giáo dục Dự phòng. Ngài đã đi hàng trăm cây số để thăm viếng các cộng đoàn trong Tu hội, điều phối các nhà Salêdiêng như một gia đình thống nhất. Ngài từng chia sẻ rằng những chuyến đi ấy đã khiến ngài thấy “cảnh nghèo ở khắp nơi”. Làn sóng công nghiệp hóa đầu tiên đã khiến nhiều nông dân rời bỏ ruộng đồng để làm việc trong các nhà máy với đồng lương ít ỏi, đổi lại là những ngày lao động vất vả không ngừng nghỉ. Trước tình cảnh đó, các Salêdiêng đã đón nhận nhiều trẻ em lang thang ngoài đường phố, mở ra các nguyện xá và trường học – dù đơn sơ nhưng nhanh chóng trở thành những trung tâm giáo dục và đón tiếp đầy tình người. Cha Rua là một nhà cải cách lớn trong lãnh vực giáo dục. Ngoài việc tổ chức trường học, ngài còn đưa vào chương trình học các khóa kỹ thuật, đồng thời thành lập các lưu xá và câu lạc bộ sinh hoạt xã hội. Với trách nhiệm điều hành Tu hội, ngài cũng hết sức cẩn trọng trong các vấn đề quản trị tài chính, đến mức đôi khi trở nên nghiêm khắc với các cộng sự thân cận. Ngài thường nhớ lại lời Don Bosco đã nói với mình khi còn là một cậu bé: “Con sẽ có rất nhiều việc phải làm.”

Dù có nhiều niềm vui và thành công trong sứ mạng: năm 1907 – Don Bosco được tuyên phong Đấng Đáng Kính; năm 1908 – nhà thờ Santa Maria Liberatrice ở Rôma được hoàn thành, cha Rua cũng không thiếu những gian nan, thử thách. Năm 1896, chính quyền bài giáo sĩ ở Ecuador đã trục xuất các Salêdiêng khỏi đất nước; đến năm 1902, điều tương tự xảy ra ở Pháp. Năm 1907, cha Rua buộc phải đưa vấn đề ra tòa tại Varazze (Liguria, Ý) để đối phó với những cáo buộc nghiêm trọng chống lại Tu hội. Một âm mưu bài Công giáo do nhóm Tam điểm (Masonic) dựng lên đã nhanh chóng sụp đổ, và những kẻ vu khống buộc phải chạy trốn ra nước ngoài. Đến lúc này, sức khỏe của cha Rua đã suy yếu nghiêm trọng. Mang trong mình gánh nặng tuổi tác, ngài phải nằm liệt giường. Ngài qua đời ngày 6 tháng 4 năm 1910, miệng thì thầm lời nguyện đơn sơ mà Don Bosco đã dạy ngài thuở thiếu thời: “Lạy Trinh Nữ Maria, xin cứu giúp linh hồn con.” Người cha thứ hai của Gia đình Salêdiêng được an táng bên cạnh Don Bosco, vị thầy đáng kính của ngài.

Ngày 29 tháng 10 năm 1972, Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã tôn phong cha Rua lên bậc Chân phước và tuyên bố: “Gia đình Salêdiêng được khai sinh từ Don Bosco, và được tiếp nối nơi Don Rua… Ngài đã biến gương sáng của vị thánh thành một ngôi trường, biến Luật Dòng thành một tinh thần sống động, và biến sự thánh thiện của Don Bosco thành mẫu gương cụ thể… Don Rua đã khởi đầu một truyền thống.” Ngày nay, mộ phần của ngài được kính viếng trong khu hầm mộ tại Vương cung Thánh đường Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu ở Torino.

LỜI NGUYỆN

Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con, Cha đã ban cho Chân phước Micae Rua, vị linh mục và người thừa kế thiêng liêng của thánh Gioan Bosco, ơn huệ biết khắc họa hình ảnh thần linh của Cha nơi tâm hồn người trẻ. Xin cho chúng con – những người được kêu gọi để giáo dục giới trẻ, nhận ra khuôn mặt đích thực của Đức Kitô, Con Cha. Xin Cha tôn vinh tôi tớ Cha, và nhờ lời chuyển cầu của ngài, ban cho chúng con ơn… mà chúng con cầu xin. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

 

 

Visited 2 times, 2 visit(s) today

Khám phá thêm từ

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.