(RMG) Thánh Têrêsa Calcutta và Tu hội Salêdiêng: “Đừng để bất cứ ai tách rời tình yêu dành cho Chúa Kitô khỏi tình yêu dành cho người nghèo”

(ANS – Rôma) – Vào ngày 5 tháng 9, Giáo hội cử hành lễ nhớ Thánh Têrêsa Calcutta, vị nữ tu gốc Albania mang quốc tịch Ấn Độ. Ngài qua đời vào chính ngày này năm 1997 và được Đức Thánh Cha Phanxicô tuyên thánh vào ngày 4 tháng 9 năm 2016. Phía sau hình ảnh vốn đã quá đỗi quen thuộc của Mẹ Têrêsa – dáng vẻ cặm cụi, cúi xuống chăm sóc những người ốm đau và hấp hối trên đường phố Calcutta – là một câu chuyện vô cùng ý nghĩa: Đó là mối liên hệ lâu dài và đầy hoa trái của Mẹ với Tu hội Salêdiêng, một sự gắn kết kéo dài gần năm thập kỷ và vẫn tiếp tục khơi nguồn cảm hứng cho cam kết chung trong việc phục vụ những người nghèo nhất trong các người nghèo cho đến tận hôm nay.
 
Một cuộc gặp gỡ khởi nguồn từ việc phục vụ người nghèo
 
Tiếp xúc đầu tiên được ghi nhận giữa Mẹ Têrêsa và một hội viên Salêdiêng diễn ra vào ngày 7 tháng 10 năm 1950, ngay những ngày đầu tiên trong sứ mạng của Mẹ. Chính Cha Attilio Colussi, linh mục chánh xứ Nhà thờ Chính toà Rất Thánh Mân Côi ở Calcutta, là người đã giảng trong Thánh lễ tuyên khấn của 12 nữ tu Thừa sai Bác ái tiên khởi. Cha Colussi tiếp tục đồng hành và hướng dẫn thiêng liêng cho các nữ tu của Mẹ Têrêsa cho đến khi ngài qua đời vào năm 1988, hưởng thọ 81 tuổi. Trong các dịp tĩnh tâm và hội thảo dành cho tu sĩ, ngài thường nhắc lại nguồn gốc ơn gọi phục vụ những người bị bỏ rơi của Mẹ Têrêsa.
 
Từ cuộc gặp gỡ đầu tiên ấy, một mạng lưới cộng tác đã hình thành và lan toả khắp Ấn Độ cũng như vươn xa hơn nữa. Cha Rosario Stroscio, người từng phục vụ trong vai trò Giám tỉnh Salêdiêng tại Calcutta từ năm 1967 đến 1972, đã trở thành nhân vật trọng tâm đối với dòng Thừa sai Bác ái. Khi chính quyền ban hành lệnh trục xuất vô căn cứ đối với ngài vì cáo buộc “cải đạo”, chính Mẹ Têrêsa đã đích thân can thiệp, yêu cầu bổ nhiệm ngài làm linh mục tuyên uý cho các nữ tu tại Prem Dan Tengra, một trung tâm dưỡng bệnh lớn dành cho bệnh nhân lao. Chính quyền không những thu hồi lệnh trục xuất mà còn đề nghị cấp quốc tịch Ấn Độ cho ngài.
 
“Điểm hiệp nhất giữa anh em và chúng tôi chính là: người nghèo”.
 
Đỉnh cao của mối quan hệ này diễn ra vào giữa thập niên 1980, khi Mẹ Têrêsa trực tiếp ngỏ lời với Tu hội Salêdiêng tại Rôma vào ngày 17 tháng 5 năm 1984 – trong một cuộc gặp gỡ với các thành viên của Tổng Tu nghị lần thứ 22, lúc bấy giờ vẫn do Cha Viganò lãnh đạo. Bài diễn văn đó cho đến nay vẫn là minh chứng sâu sắc nhất và thường được trích dẫn nhất về mối dây liên kết này. Mẹ Têrêsa đã nói với lòng biết ơn về sự hỗ trợ mà các tu sĩ Salêdiêng dành cho các nữ tu của Mẹ, đặc biệt là tại Calcutta, và Mẹ miêu tả ơn gọi Salêdiêng như “món quà tuyệt đẹp từ Thiên Chúa… để trở thành những người mang tình yêu của Chúa”.
 
Gợi nhớ về Don Bosco, Mẹ chia sẻ rằng Đấng sáng lập Tu hội Salêdiêng “dành một tình yêu bao la cho người nghèo; ngài luôn nhìn thấy Chúa Giêsu nơi họ” – không chỉ “như một hành vi đức tin”, mà xuất phát từ “một niềm xác tín sâu xa”. Từ đặc sủng chung đó đã nảy sinh câu nói đúc kết toàn bộ mối quan hệ giữa hai gia đình tu trì: “Điểm hiệp nhất giữa anh em và chúng tôi chính là đây: người nghèo!”.
 
Cũng trong bài diễn văn đó, Mẹ Têrêsa đã thuật lại những giai thoại làm nên lời chứng được biết đến rộng rãi nhất của Mẹ: hàng ngàn người được đưa về từ các đường phố Calcutta và được đồng hành để có một cái chết bình yên; việc đưa vào thực hành giờ chầu Thánh Thể hằng ngày vào năm 1973 – một quyết định được đưa ra sau lời thỉnh nguyện đồng lòng của các nữ tu trong một Tổng Tu nghị của Dòng Thừa sai Bác ái; và cuộc gặp gỡ của Mẹ với một cặp vợ chồng trẻ người Hindu, những người đã quyên góp toàn bộ số tiền tiết kiệm dành cho tiệc cưới của họ để giúp đỡ những người đang đói khát ở Calcutta. Chính trong dịp đó, Mẹ đã đưa ra lời khuyên nhủ mà các hội viên Salêdiêng đến nay vẫn khắc ghi như một di chúc thiêng liêng đích thực: “Đừng để bất cứ ai hay bất cứ điều gì tách rời tình yêu của anh em dành cho Chúa Kitô khỏi tình yêu dành cho người nghèo! Thật dễ dàng khi để cho một ai đó hoặc một điều gì đó cướp đi niềm vui được yêu thương và phục vụ người nghèo. Họ chính là món quà vĩ đại nhất mà Thiên Chúa ban tặng cho chúng ta!”.
 
Những công cuộc chung, từ Bengal đến Yemen
 
Sự cộng tác giữa Mẹ Têrêsa và các con cái của Don Bosco không chỉ dừng lại ở lời nói mà đã trở thành những công cuộc cụ thể trải rộng trên nhiều khu vực khác nhau ở Ấn Độ. Tại Calcutta, khi Cha Anthony Thaiparambil khởi xướng dự án Ashalayam vào năm 1985 dành cho trẻ em đường phố trong một căn phòng thuê ở khu ổ chuột Howrah Pilkhana – bối cảnh được tác giả Dominique Lapierre miêu tả trong cuốn Thành phố của Niềm vui (The City of Joy) – chính Mẹ Têrêsa đã đề xuất việc phân chia công việc để định hình sự cộng tác của họ: “Chúng tôi sẽ chăm sóc các em gái. Còn các cha hãy dấn thân phục vụ các em trai.” Mẹ Têrêsa đã đích thân tham dự lễ làm phép các ngôi nhà của trung tâm vào năm 1991 và 1995. Cho đến tận lễ Giáng sinh năm 1995, các trẻ em của dự án Ashalayam vẫn thường đến hát tại Nhà Mẹ của dòng Thừa sai Bác ái, nơi đích thân Mẹ Têrêsa sẽ phát bánh kẹo cho các em.
 
Tại Guwahati, thuộc bang Assam ở vùng đông bắc, sự hợp tác bắt đầu vào năm 1977 khi Cha Joseph Thelekkatt, hiệu trưởng Trường Don Bosco địa phương, đưa một nhóm học sinh đến gặp Mẹ Têrêsa ở Calcutta. Từ ước nguyện mà Mẹ Têrêsa bày tỏ trong dịp đó – muốn mở một mái ấm ở Guwahati, dù chỉ là cơ sở thuê mướn – một dự án đã ra đời với sự tham gia của Thủ hiến bang Assam, ông Golap Borbora. Ngày nay, dự án này bao gồm ba mái ấm do các nữ tu Thừa sai Bác ái điều hành trong thành phố. Cho đến nay, các nữ tu vẫn trìu mến gọi Cha Thelekkatt, người sau này trở thành Giám tỉnh, là “người con của Mẹ”.
 
Cũng tại vùng đông bắc Ấn Độ, ở bang Arunachal Pradesh, nơi các tổ chức Kitô giáo từng bị cấm từ năm 1977, một cuộc gặp gỡ tình cờ ở Calcutta vào năm 1986 giữa Mẹ Têrêsa và vị linh mục trẻ Salêdiêng Jose Chemparathy đã dẫn đến việc khánh thành ngôi nhà đầu tiên của dòng Thừa sai Bác ái tại Pappunalla, gần Itanagar vào năm 1992, tiếp theo là ngôi nhà thứ hai ở Borduria, nơi Mẹ Têrêsa đã đích thân đến thăm vào năm 1993. Cũng chính để làm phép nhà thờ đầu tiên ở Arunachal, tại Borduria, mà vào năm đó Mẹ Têrêsa đã từ chối lời mời của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tháp tùng ngài đến Ngày Giới trẻ Thế giới ở Denver. Thay vào đó, Mẹ chọn đi đến vùng truyền giáo hẻo lánh ấy cùng với vị Tổng Giám mục của Guwahati lúc bấy giờ là Đức cha Thomas Menamparampil – người đã biết Mẹ từ năm 1958, khi ngài còn là một tập sinh Salêdiêng tại Bandel.
 
Một di sản trường tồn.
 
Gần năm mươi năm của những cuộc gặp gỡ, những công cuộc chung và những lời sẻ chia vượt qua ranh giới của từng hội dòng, ngày nay vẫn là một di sản sống động cho Gia đình Salêdiêng, đặc biệt khi cử hành lễ nhớ Mẹ vào ngày 5 tháng 9. Như Mẹ Têrêsa đã từng nói với các thành viên Tu nghị Salêdiêng năm 1984, nhờ lời chuyển cầu của Đấng sáng lập các Nguyện xá: “Thánh Gioan Bosco hẳn phải rất vui mừng khi thấy Tu hội của ngài luôn gìn giữ niềm vinh dự này dành cho những người nghèo nhất trong các người nghèo.”
 
Ban Truyền thông chuyển ngữ
Visited 1 times, 1 visit(s) today

Khám phá thêm từ

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.